LiveClub Việt Nam

Professional Microsoft Community Club
Chào bạn thăm LiveClub Việt Nam Đăng nhập | Đăng ký | Trợ giúp
tìm bên trong Tìm kiếm

MSOPENLAB VIETNAM BLOG

MAKES MICROSOFT TECHNOLOGY AVAILABLE TO EVERYONE

September 2008 - Bài gửi

  • TỔNG QUAN VỀ EXCHANGE SERVER 2007

    Để mở đầu cho loạt bài về Exchange Server 2007. Trong bài viết này sẽ giới thiệu với các bạn sơ lược về sản phẩm Exchange Server 2007 và những tính năng của các role trong Exchange Server 2007. 
    Server Roles Overviews
    Hình 1 – Các loại Server Role trong Exchange Server 2007

    Như bạn thấy ở hình trên, Exchange Server 2007 có tất cả 5 role chính:
    1. Client Access Server Role
    2. Edge Transport Server Role
    3. Hub Transport Server Role
    4. Mailbox Server Role
    5. Unified Messaging Server Role

    Để có thể triển khai một hệ thống mail exchange server hoàn chỉnh yêu cầu bạn phải nắm vững khái niệm và chức năng của từng role.

    I. Client Access Server Role:

    Role này chấp nhận các kết nối từ hệ thống mail Exchange của bạn đến mail clients khác(Non MAPI). Các phần mềm mail clients như Outlook Express và Eudora dùng POP3 hoặc IMAP4 để giao tiếp với Exchange Server. Các thiết bị di động như mobiles, PDA... dùng ActiveSync, POP3 hoặc IMAP4 để giao tiếp với hệ thống Exchange.

    Như vậy, chúng ta nhận thấy, bên cạnh việc hỗ trợ MAPI và HTTP clients, Echange Server 2007 còn hỗ trợ POP3 và IMAP4. Theo mặc định thì POP3 và IMAP4 sẽ được cài đặt khi bạn cài Client Access Server Role

    II. Edge Transport Server Role:

    Edge Transport Server Role là 1 server chuyên dùng trong việc security, có chức năng lọc Anti-Virus và Anti-Spam, nó gần giống như Hub Transport nhưng Edge Transport không có nhiệm vụ vận chuyển mail trong nội bộ mà nó chỉ làm nhiệm vụ bảo vệ hệ thống Email server. Tất cả mọi e-mail trước khi vào hay ra khỏi hệ thống đều phải qua Edge Transport . Edge Trasport chỉ có thể cài trên một Stand-Alone Server và không thể cài chung với các role khác(Mailbox,Client Access,Hub Transport...)

    III. Hub Transport Server Role:

    Hub Transport Server Role có nhiệm vụ chính là vận chuyển Email trong hệ thống Exchange. Tại Hub Transport chúng ta có thể cấu hình các email policy ( sửa, thêm, hoặc thay đổi ...) trước khi vận chuyển email đi. Những email được gửi ra ngoài Internet đầu tiên sẽ được chuyển tiếp đến Hub Transport, sau đó sẽ qua Edge Transport để lọc Antivirus và Spam, và cuối cùng mới chuyển tiếp ra ngòai Internet.

    Như vậy, tóm lại, chúng ta có thể hiểu như sau:
    Edge Transport: chịu trách nhiệm vận chuyển email mesage với các hệ thống bên ngoài - đóng vai trò như gateway. (đối ngoại)
    Hub Transport: chịu trách nhiệm vận chuyển email message trong nội bộ và chuyển các email message gửi ra ngoài (đối nội+ đối ngoại)

    IV. Mailbox Server Role:
    Mailbox Server Role chứa tất cả các Mailbox database và Public Folder database. Nó cung cấp những dịch vụ về chính sách địa chỉ email và danh sách địa chỉ dành cho người nhận.

    Mailbox server interactions and protocols
    Hình 2 – Mối quan hệ giữa Mailbox Server Role và các Server Role khác

    1. Mailbox Server truy cập vào AD để lấy thông tin của đối tượng (Mailbox user....)
    2. Hệ thống lưu trữ trên Hub Transport sẽ giữ lá mail này lại.
    3. Client Access Server Role gửi yêu cầu từ clients đến Mailbox Server Role, và sau đó lấy dữ liệu từ Mailbox Server Role về.
    4. Unified Messaging Server Role sẽ phân loại voice email và thông tin về cho Outlook Voice Access.
    5-6. Outlook clients ở trong mạng nội bộ có thể truy cập trực tiếp Mailbox Server để gửi và nhận mail. Outlook Clients ở ngòai Internet có thể truy cập Mailbox server bằng cách dùng RPC over HTTP

    V. Unified Messaging Server Role:

    Unified Messaging là một chức năng mới trong hệ thống Microsoft Exchange Server 2007. Hỗ trợ e-mail, voice-mail, máy fax, lịch, danh sách các việc cần làm từ bất kỳ thiết bị nào (gồm cả điện thoại).Unified Messaging được xây dựng trong cả hai lĩnh vực: Outlook Voice Access và các khả năng hỗ trợ truy cập không dây.

    Outlook Voice Access
    Có lẽ thành phần quan trọng nhất đối với người dùng là Outlook Voice Access, một chương trình bổ sung tuyệt vời trong Exchange Server 2007. Chương trình này chủ yếu kết nối dữ liệu từ hộp mailbox Exchange của người dùng với các khả năng lời nói nhúng trong sản phẩm dịch vụ. (Các khả năng lời nói dựa vào phiên bản ‘chì’ của Microsoft Speech Server). Người dùng có thể quay số cổng Exchange, nhập mã số uỷ nhiệm và kết nối với bộ lịch hay thư điện tử trong hộp Inbox. Outlook Voice Access sẽ đọc e-mail, thư trong máy fax, chi tiết lịch, thông tin liên hệ, giống như qua điện thoại.
    Chương trình này không phải là giải pháp một chiều. Outlook Voice Access còn trả lời các câu lệnh bằng lời, giống như một người thư ký tự động tận tuỵ. Chẳng hạn chuyến bay của bạn bị trễ hai tiếng, bạn có thể nói với Outlook Voice Access qua điện thoại, nó sẽ thông báo với khách hàng đang đợi bạn sắp xếp lại cuộc gặp trễ sau hai tiếng.
    Bạn cũng có thể gọi vào và xoá chương trình làm việc trong một khoảng thời gian nhất định hoặc toàn bộ một ngày. Exchange sẽ cho phép người tham gia buổi gặp gỡ biết sự vắng mặt của bạn bằng kiểu giải thích qua âm thanh. Bạn vẫn có thể thực hiện các chức năng quản lý mailbox thông thường như trả lời và xoá thư qua điện thoại từ bất cứ địa điểm nào.

    Tương thích và các khả năng không dây
    Người dùng thiết bị Windows Mobile cơ sở sẽ hứng thú với quyền truy cập tăng và tốc độ thực thi tốt hơn. Tính năng trong Windows Mobile được đồng bộ hoá với hộp mailbox của Exchange Server 2007, platform ActiveSync được nâng cấp. Microsoft đăng ký bản quyền ActiveSync trước các hãng điện thoại di động khác. Mục đích của công ty là tạo ra khả năng đồng bộ Exchange với các platform thiết bị, không chỉ của Windows Mobile. 
    Overview of Exchange Unified Messaging Topology
  • INTERNET PROTOCOL VERSION 6-PHẦN II: TRIỂN KHAI DNS VÀ DHCP TRÊN NỀN IPv6

    I. Giới thiệu

    Trong phần 1, tôi đã giới thiệu với các bạn về tổng quan và cách thức sử dụng IPv6. Tiếp theo, trong phần này sẽ hướng dẫn cụ thể cách triển khai DNS Server và DHCP Server trong hệ thống mạng sử dụng IPv6.

    Bài viết bao gồm các phần:

    Phần I: Tổng quan IPv6
    Phần II: Triển khai DNS và DHCP trên nền IPv6

    Phần II bao gồm các bước:

    1. Cấu hình TCP/IPv6

    2. Cài đặt DNS Server role

    3. Cấu hình DNS Server

    4. Cài đặt DHCP Server role

    5. Cấu hình DHCP Scope

    6. Cấu hình Client sử dụng IPv6

    7. Kiểm tra kết quả

    II. Chuẩn bị

    Bài lab bao gồm 2 máy:

    -  Máy Server: Windows Server 2008

    -  Máy Client: Windows Server 2008 hoặc Windows Vista

    III. Thực hiện

     

    1.      Cấu hình TCP/IPv6

    - Tại máy Server, log on Administrator, vào Start\Settings chọn Network Connections

    - Trong cửa sổ Network Connections, chuột phải Local Area Connection chọn Properties

    - Hộp thoại Local Area Connection Properties, bỏ dấu chọn Internet Protocol Version 4 (TCP/IPv4), chọn Internet Protocol Version 6 (TCP/IPv6), chọn Properties

    - Trong cửa sổ Internet Protocol Version 6 (TCP/IPv6) Properties, nhập thông số TCP/IP như sau

    + IPv6 address: fc00:192:168:5::25

    + Subnet prefix length: 64

    + Preferred DNS server: fc00:192:168:5::25

    - Mở Windows Firewall từ Control Panel, chọn Change settings


    - Trong hộp thoại Windows Firewall Settings, chọn Off, chọn OK


    - Mở System từ Control Panel, trong cửa sổ System chọn Change settings 

    - Trong hộp thoại System Properties, vào tab Computer Name, chọn Change

    - Hộp thoại Computer Name/Domain Changes, chọn More

    - Hộp thoại DNS Suffix and NetBIOS Computer Name, nhập MSOpenLab.com vào ô Primary DNS suffix of this computer, chọn OK 3 lần

    - Trong hộp thoại System Properties, chọn Close

    - Hộp thoại yêu cầu restart máy, chọn Restart Now

    - Sau khi khởi động máy thành công, log on Administrator, mở command line, gõ lệnh ipconfig /all, kiểm tra thông tin như trong hình bên dưới.

    2. Cài đặt DNS Server role

    - Tại máy Server, log on Administrator, mở Server Manager từ Administrative Tools

    - Trong cửa sổ Server Manager, chuột phải Roles chọn Add Roles


    - Hộp thoại  Before You Begin, chọn Next


    - Trong hộp thoại Select Server Roles, đánh dấu chọn DNS Server, chọn Next

    - Hộp thoại DNS Server, chọn Next

    - Hộp thoại Confirm Installation Selections, chọn Install

    - Hộp thoại Install Results, chọn Close

    3. Cấu hình DNS Server

    - Tại máy Server, sau khi cài đặt DNS thành công, mở DNS Manager từ Administrative Tools

    - Trong cửa sổ DNS Manager, bung Server1, chuột phải Forward Lookup Zones, chọn New Zone



    - Hộp thoại Welcome to the New Zone Wizard, chọn Next

    - Trong hộp thoại Zone Type, chọn Primary zone, chọn Next

    - Hộp thoại Zone Name, nhập MSOpenLab.com vào ô Zone name, chọn Next

    - Hộp thoại Zone File, chọn Next

    - Trong hộp thoại Dynamic Update, chọn Allow both nonsecure and secure dynamic updates, chọn Next

    - Hộp thoại Completing the New Zone Wizard, chọn Finish

    - Trong cửa sổ DNS Manager, kiểm tra tạo thành công zone MSOpenLab.com, trong zone MSOpenLab.com IPv6 Host record server1

    - Trong cửa sổ DNS Manager, chuột phải Reverse Lookup Zones, chọn New Zone

    - Hộp thoại Welcome to the New Zone Wizard, chọn Next

    - Trong hộp thoại Zone Type, chọn Primary zone, chọn Next

    - Trong hộp thoại Reverse Lookup Zone Name, chọn IPv6 Reverse Lookup Zone, chọn Next

    - Trong hộp thoại Reverse Lookup Zone Name, nhập địa chỉ như trong hình bên dưới

    - Hộp thoại Zone File, nhập msopenlabnet.dns vào ô Create a new file with this file name, chọn Next

    - Trong hộp thoại Dynamic Update, chọn Allow both nonsecure and secure dynamic updates, chọn Next

    - Hộp thoại Completing the New Zone Wizard, chọn Finish

    - Trong cửa sổ DNS Manager, kiểm tra tạo thành công Reverse Lookup Zone

    - Mở Command Line, gõ lệnh ipconfig /registerdns

    - Mở DNS Manager, vào zone 9.0.0.0.8.6.1.0.2.9.1.0.0.0.c.f.ip6.arpa, kiểm tra có Pointer record như trong hình bên dưới

    - Mở Command Line, gõ lệnh dnscmd /config /enableIPv6 1

    4. Cài đặt DHCP Server role

    - Tại máy Server, mở Server Manager từ Administrative Tools, chuột phải Roles chọn Add Roles

    - Hộp thoại Before You Begin, chọn Next

    - Trong hộp thoại Select Server Roles, đánh dấu chọn DHCP Server, chọn Next

    - Hộp thoại DHCP Server, chọn Next

    - Hộp thoại Select Network Connection Bindings, kiểm tra có đánh dấu chọn fc00:192:168:5::25, chọn Nex

    - Hộp thoại Specify IPv4 DNS Server Settings, chọn Next

    - Hộp thoại Specify IPv4 WINS Server Settings, chọn WINS is not required for applications on the network, chọn Next

    - Hộp thoại Add or Edit DHCP Scopes, chọn Next 

    - Trong hộp thoại Configure DHCPv6 Stateless Mode, chọn Enable DHCPv6 stateless mode for this server, chọn Next

    - Trong hộp thoại Specify IPv6 DNS Server Settings, nhập MSOpenLab.com vào ô Parent Domain, nhập fc00:192:168:5::25 vào ô Preferred DNS Server IPv6 Address, chọn Next

    - Hộp thoại Confirm Installation Selections, chọn Install

    - Hộp thoại Installation Results, chọn Close

    5. Cấu hình DHCP Scope

    - Tại máy Server, sau khi cài đặt DHCP thành công, mở DHCP từ Administrative Tools

    - Trong cửa sổ DHCP, bung server1.msopenlab.com, chuột phải IPv6 chọn New Scope

    - Hộp thoại Welcome to the New Scope Wizard, chọn Next

    - Trong hộp thoại Scope Name, nhập IPv6 Scope vào ô Name, chọn Next

    - Trong hộp thoại Scope Prefix nhập fc00:92:168:5:: vào ô Prefix, chọn Next

    - Hộp thoại Add Exclusions, chọn Next

    - Hộp thoại Scope Lease, chọn Next

    - Hộp thoại Completing the New Scope Wizard, chọn Finish

    - Trong cửa sổ DHCP, bung IPv6, chuột phải Scope[fc00:192:168:5::25] chọn Properties

    - Trong hộp thoại Scope[fc00:192:168:5::25] Scope Properties, qua tab DNS, chọn Always dynamically update DNS AAA and PTR record, chọn OK

    6. Cấu hình Client sử dụng IPv6

    - Tại máy Client, log on Administrator, vào Start\Setting chọn Network Connections

    - Trong cửa sổ Network Connection, chuột phải Local Area Connection, chọn Properties

    - Trong hộp thoại Local Area Connection Properties, bỏ dấu chọn Internet Protocol Version 4 (TCP/IPv4), đánh dấu chọn Internet Protocol Version 6 (TCP/IPv6), chọn Properties

    - Trong hộp thoại Internet Protocol Version 6 (TCP/IPv6) Properties, chọn Obtain an IPv6 address automatically Obtain DNS server address automatically, chọn OK 2 lần

    - Mở Command Line, gõ lệnh như hình bên dưới

    - Mở System từ Control Panel, chọn Change settings

    - Trong hộp thoại System Properties, chọn Change

    - Hộp thoại Computer Name/Domain Changes, chọn More

    - Trong hộp thoại DNS Suffix and NetbIOS Computer Name, nhập MSOpenLab.com vào ô Primary DNS suffix of this computer, chọn OK 3 lần

    - Hộp thoại System Properties, chọn Close

    - Hộp thoại Microsoft Windows, chọn Restart Now

    - Sau khi khởi động máy Client, mở Command Line, gõ lệnh ipconfig /registerdns

    - Trong cửa sổ Command Line, gõ lệnh ipconfig /all, kiểm tra máy Client nhận được thông số TCP/IP từ máy Server cung cấp.

    7. Kiểm tra kết quả

    - Tại máy Server, mở DNS Manager, bung Server1\Forward Lookup Zones, kiểm tra trong zone MSOpenLab.com đã có host record của máy Client

    - Trong cửa sổ DNS Manager, bung Server1\Reverse Lookup Zones, kiểm tra có  pointer record của máy Client

  • INTERNET PROTOCOL VERSION 6-PHẦN I: TỔNG QUAN IPv6

    IPv4 đã được chuẩn hóa kể từ RFC 791 phát hành năm 1981. IPv4 dùng 32bit để biểu diễn địa chỉ IP. Sử dụng 32 bit này, ta có thể đánh được khoảng 4.3 tỷ địa chỉ khác nhau. Nhưng chỉ khoảng hơn 10 năm sau khi ra đời, vào nửa đầu thập kỷ 90, nguy cơ thiếu địa chỉ IP đã xuất hiện tại 1 số nước như Trung Quốc, Ấn Độ, .... Các nhà phát triển đã triệu tập nhiều hội nghị, nhiều phương án đã xuất hiện như: CIDR, NAT, ... song, với sự phát triển cực kỳ tốc độ, 4.3 tỷ địa chỉ kia không đủ đặt địa chỉ cho những PC, di động, các thiết bị điện tử khác, ... để nối trực tiếp tới Internet.

    Để giải quyết vấn đề đó thì IPv6 đã ra đời. Với 128 bit lớn hơn IPv4 gấp 4 lần, bạn có thể đánh được khoảng 340 tỷ tỷ tỷ tỷ địa chỉ. Đây là không gian địa chỉ cực lớn không chỉ dành riêng cho Internet mà còn cho tất cả các mạng máy tính, hệ thống viễn thông, hệ thống điều khiển và thậm chí là vật dụng gia đình. Có bao giờ một ngày nào đó, bạn chưa tắt máy lạnh ở nhà, nồi cơm điện ở nhà chưa bật, bạn có mong muốn là dù bạn có ở bất cứ nơi đâu vẫn có thể kết nối và ra lệnh cho những thiết bị đó từ xa. Trong tương lai không xa, chắc chắn sẽ làm được điều đó, mỗi một vật dụng gia đình sẽ mang một địa chỉ IPv6

    IPv6 được tích hợp trong Windows XP SP1 và Windows Server 2003 nhưng bị ẩn . Còn trên Windows Server 2008 và Windows Vista, mặc định IPv6 được mở. Hiện tại thì nhu cầu chúng ta cần 15% IPv6, còn 85% còn lại dùng để dự phòng trong tương lai

    Trong phần này, tôi sẽ giới thiệu tổng quan, cách triển khai và thiết lập một hệ thống mạng có IPv6.

    CẤU TRÚC ĐỊA CHỈ IPv6

    Tính năng quan trọng nhất của IPv6 khi được so sánh với IPv4 chính là không gian địa chỉ lớn hơn. Địa chỉ IPv4 sẽ không bao giờ được mở rộng, do đó việc nâng cấp lên IPv6 là điều thiết yếu nếu Internet ngày càng phát triển.

    IPv6 có tổng cộng là 128 bit được chia làm 2 phần: 64 bit đầu được gọi là network, 64 bit còn lại được gọi là host. Phần network dùng để xác định subnet, địa chỉ này được gán bởi các ISP hoặc những tổ chức lớn như IANA (Internet Assigned Numbers Authority). Còn phần host là một địa chỉ ngẫu nhiên dựa trên 48 bit của MAC Address.

    Địa chỉ IPv6 có 128 bit, do đó việc nhớ được địa chỉ này rất khó khăn. Cho nên để viết địa chỉ IPv6, người ta đã chia 128 bit ra thành 8 nhóm, mỗi nhóm chiếm 2 bytes, gồm 4 số được viết dưới hệ số 16, và mỗi nhóm được ngăn cách nhau bằng dấu hai chấm



    HỆ THẬP LỤC PHÂN VÀ HỆ NHỊ PHÂN


    Ví dụ:

    FEDL:8435:7356:EADC:BA98:2010:3280:ABCD

    Nhưng nếu mà viết theo kiểu như vậy (đẹp thì có đẹp đó), nhưng bạn sẽ không thể nhớ được. Cho nên, cần phải đơn giản cái địa chỉ này một chút. Vì IPv6 là một địa chỉ mới nên chúng ta sẽ ko xài hết 128 bits, cũng giống như SIM điện thoại vậy, đầu số 0122 mới ra có rất nhiều số và do đó chúng ta có quyền lựa chọn. Và IPv6 cũng vậy, vì mới ra cho nên sẽ có nhiều số 0 ở các bit đầu. Chúng ta có thể lược bỏ các số 0 này đi. Tôi lấy một ví dụ cụ thể:

    Địa chỉ: 1088:0000:0000:0000:0008:0800:200C:463A

    --> Bạn có thể viết 0 thay vì phải viết là 0000, viết 8 thay vì phải viết 0008, viết 800 thay vì phải viết là 0800

    Và đây là địa chỉ đã được rút gọn: 1088:0:0:0:8:800:200C:463A

    Nhìn chung như vậy cũng được rồi, nhưng IPv6 còn có một nguyên tắc nữa là bạn có thể nhóm các số 0 lại thành 2 dấu hai chấm "::", địa chỉ ở trên, bạn có thể viết lại như sau:

    1088::8:800:200C:463A

    Qua ví dụ trên, bạn sẽ rút ra được 2 nguyên tắc:

    1. Trong dãy địa chỉ IPV6, nếu có số 0 đứng đầu có thể loại bỏ. Ví dụ 0800 sẽ được viết thành 800, hoặc 0008 sẽ được viết thành 8

    2. Trong dãy địa chỉ IPv6, nếu có các nhóm số 0 liên tiếp, có thể đơn giản các nhóm này bằng 2 dấu :: ( chí áp dụng khi dãy 0 liên tiếp nhau)


    Bạn với tôi thử làm vài ví dụ nhé:

    Ví dụ 1: FADC:BA98::7654:3210

    -> IPv6 có tổng cộng là 8 nhóm, mà ở trên bạn thấy có 4 nhóm, như vậy ở giữa 2 dấu hai chấm, sẽ là 4 nhóm số 0. Vậy địa chỉ trên có thể viết đầy đủ là:

    FADC:BA98:0:0:0:0:7654:3210

    Ví dụ 2: FADC:BA98:7654:3210::

    -> có địa chỉ đầy đủ là: FADC:BA98:7654:3210:0:0:0:0

    Ví dụ 3: ::FADC:BA98:7654:3210

    -> có địa chỉ đầy đủ là: 0:0:0:0:FADC:BA98:7654:3210

    Nhưng bây giờ tôi có trường hợp như thế này:

    Giả sử tôi có địa chỉ 0:0:0:AB65:8952:0:0:0, bây giờ yêu cầu bạn đơn giản hóa địa chỉ này lại, Tôi xin đưa 3 đáp án cho bạn chọn
    1. ::AB65:8952::

    2. ::AB65:8952:0:0:0

    3. 0:0:0:AB65:8952::


    Chỉ có đáp án 2 và 3 là đúng. Một nguyên tắc nữa cần phải nhớ trong IPv6 là bạn chỉ có thể sử dụng 2 dấu hai chấm một lần với địa chỉ. Không được viết như vầy ::AB65:8952::, vì nếu bạn viết như thế sẽ gây nhầm lần khi dịch ra đầy đủ.

    Ví dụ: Nếu bạn viết ::AB65:8952::, thì người ta có thể đoán địa chỉ đầy đủ cúa nó như thế này

    0:0:AB65:8952:0:0:0:0 hoặc 0:0:0:0:AB65:8952:0:0 , …

    Sử dụng các địa chỉ IPv6 trong việc truy cập URL

    Bạn có thể truy cập một trang web bằng tên hoặc bằng địa chỉ IP. Ví dụ trang web MSOPENLAB www.msopenlab.com, có địa chỉ ip tương ứng là 203.171.30.212. Vậy bạn hoàn toàn có thể vào website Nhat Nghe bằng cách gõ:
    http://203.171.30.212.

    Tương tự như vậy bạn có thể truy cập một trang web bằng địa chỉ IPv6 nhưng phải để nó trong cặp dấu {}. Ví dụ:
    http://{FEDL:8435:7356:EADC:BA98:2010:3280:ABCD}

    Ngoài ra, bạn cũng có thể thêm số port vào địa chỉ URL, Ví dụ:
    http://{FEDL:8435:7356:EADC:BA98:2010:3280:ABCD}:80

    CÁC LOẠI IPv6:

    IPv6 gồm các loại chính sau đây:

    + Unicast Address:
    Unicast Address dùng để xác định một Interface trong phạm vi các Unicast Address. Gói tin (Packet) có đích đến là Unicast Address sẽ thông qua Routing để chuyển đến 1 Interface duy nhất

    + Anycast Address: Anycast Address dùng để xác định nhiều Interfaces. Tuy vậy, Packet có đích đến là Anycast Address sẽ thông qua Routing để chuyển đến một Interface trong số các Interface có cùng Anycast Address, thông thường là Interface gần nhất. Chữ “gần nhất” ở đây được xác định thông qua giao thức định tuyến đang sử dụng

    + Multicast Address: Multicast Address dùng để xác định nhiều Interfaces. Packet có đích đến là Multicast Address sẽ thông qua Routing để chuyển đến tất cả các Interfaces có cùng Multicast Address

    Bạn nhận thấy IPv6 không có địa chỉ Broadcast vì chức năng của địa chỉ này đã bao gồm trong nhóm địa chỉ Multicast

    Nói tóm lại, bạn có thể hiểu như sau:

    Unicast :
    Gửi tới 1 địa chỉ xác định

    Multicast: Gửi tới tất cả các thành viên của 1 nhóm

    Anycast: Gửi tới 1 thành viên gần nhất của 1 nhóm

    Bây giờ chúng ta sẽ đi sâu vào từng loại nhé

    1- Unicast Address:

    Được chia thành 4 nhóm:

    a/ Global Unicast Address:
    Địa chỉ này được sử dụng để hỗ trợ cho các ISP. Nói tóm lại Global Unicast Address giống như địa chỉ Public của IPv4.


    001: 3 bits đầu luôn luôn có giá trị = 001
    TLA ID( Top Level Aggregation): Xác định nhà cung cấp cao nhất trong hệ thống các nhà cung cấp dịch vụ
    Res: chưa sử dụng
    NLA ID (Next Level Aggregation): Xác định nhà cung cấp tiếp theo trong hệ thống các nhà cung cấp dịch vụ
    SLA ID (Site Level Aggregation): Xác định các site để tạo các subnet
    Interface ID: Là địa chỉ của Interface trong subnet


    Sơ đồ phân cấp của Global Unicast Address



    b/ Link-local Addresses:
    Đây là loại địa chỉ dùng cho các host khi chúng muốn giao tiếp với các host khác trong cùng mạng. Tất cả IPv6 của các interface đều có địa chỉ link local

    Theo hình bên dưới, bạn sẽ thấy

    10 bits đầu tiên luôn là: 1111 1110 10
    54 bits kế tiếp có giá trị bằng 0

    -> Như vậy, trong Link Local Address: 64 bit đầu là giá trị cố định không thay đổi (prefix : fe80::/64)

    Bạn thử vào cmd, gõ lệnh ipconfig /all để xem thử giá trị Link-Local Address


    + 64 bits cuối cùng là địa chỉ của Interface


    Và có một lưu ý dành cho bạn: Một router không thể chuyển bất kỳ gói tin nào có địa chỉ nguồn hoặc địa chỉ đích là Link Local Address

    c/ Site-Local Addresses:

    Site-Local Addresses được sử dụng trong hệ thống nội bộ (Intranet) tương tự các địa chỉ Private IPv4 (10.X.X.X, 172.16.X.X, 192.168.X.X). Phạm vi sử dụng Site-Local Addresses là trong cùng Site.


    10 bits đầu tiên luôn là: 1111 1110 11 (Prefix FEC0::/10)
    54 bits kế tiếp : là giá trị Subnet ID
    64 bits cuối cùng: là địa chỉ của Interface

    d/ Unique Local Address:
    Unique Local Address là địa chỉ định tuyến giữa các subnet trên một private network


    1111 1101 : 8 bits đầu là giá trị cố định FD00:: /8

    40 bits kế tiếp là Global ID : địa chỉ Site (Site ID). Có thể gán tùy ý

    16 bits kế tiếp là Subnet ID : địa chỉ Subnet trong Site, có thể tạo ra 65.536 subnet trong một site

    64 bits cuối cùng:  là địa chỉ của Interface

    2- Anycast Address:

    Anycast Address là địa chỉ đặc biệt có thể gán cho nhiều interface, gói tin chuyển đến Anycast Address sẽ được vận chuyển bởi hệ thống Routing đến Interface gần nhất. Hiện nay, địa chỉ Anycast được sử dụng rất hạn chế, rất ít tài liệu nói về cách sử dụng loại địa chỉ này. Hầu như Anycast addresss chỉ được dùng để đặt cho Router, không đặt cho Host, lý do là bởi vì hiện nay địa chỉ này chỉ được sử dụng vào mục đích cân bằng tải.

    Ví dụ : khi một nhà cung cấp dịch vụ mạng có rất nhiều khách hàng muốn truy cập dịch vụ từ nhiều nơi khác nhau, nhà cung cấp muốn tiết kiệm nên chỉ để một Server trung tâm phục vụ tất cả, họ xây dựng nhiều Router kết nối khách hàng với Server trung tâm, khi đó mỗi khách hàng có thể có nhiều con đường để truy cập dịch vụ. Nhà cung cấp dịch vụ đặt địa chỉ Anycast cho các Interfaces là các Router kết nối đến Server trung tâm, bây giờ mỗi khách hàng chỉ việc ghi nhớ và truy cập vào một địa chỉ Anycast thôi, tự động họ sẽ được kết nối tới Server thông qua Router gần nhất. Đây thật sự là một cách xử lý đơn giản và hiệu quả

    Khi tìm hiểu về địa chỉ Anycast, bạn sẽ thấy rất confused. Bởi vì nếu như bạn gán địa chỉ này cho một Interface thì nó y như là địa chỉ Unicast, nhưng khi bạn gán cho nhiều Interfaces thì nó lại có vẻ như là địa chỉ Multicast. Hihi, rắc rối quá phải hem??? Nhưng khi bạn đọc đến phần sau, bạn sẽ thấy sự khác biệt giữa Multicast và Anycast
    .

    3- Multicast Address:

    Trong địa chỉ IPv6 không còn tồn tại khái niệm địa chỉ Broadcast. Mọi chức năng của địa chỉ Broadcast trong IPv4 được đảm nhiệm thay thế bởi địa chỉ IPv6 Multicast. Địa chỉ Multicast giống địa chỉ Broadcast ở chỗ điểm đích của gói tin là một nhóm các máy trong một mạng, song không phải tất cả các máy. Trong khi Broadcast gửi trực tiếp tới mọi host trong một subnet thì Multicast chỉ gửi trực tiếp cho một nhóm xác định các host, các host này lại có thể thuộc các subnet khác nhau. Host có thể lựa chọn có tham gia vào một nhóm Multicast cụ thể nào đó hay không (thường được thực hiện với thủ tục quản lý nhóm internet - Internet Group Management Protocol), trong khi đó với Broadcast, mọi host là thành viên của nhóm Broadcast bất kể nó có muốn hay không.

    4- Các loại địa chỉ IPV6 đặc biệt:


    a. IPv4-Cpompatible Address
    (IPv4CA) :

     

    Format :  0:0:0:0:0:0:w.x.y.z              Trong đó w,x,y,z là các IPv4 Address           
    Vd
    : 0:0:0:0:0:0:0:192.168.1.2

     

    IPv4CA là địa chỉ tương thích của một IPv4/IPv6 Node. Khi sử dụng IPv4CA như một IPv6 Destination,  gói tin sẽ được đóng gói (Packet) với IPv4 Header để truyền trong môi trường IPv4

     


    b. IPv4-mapped address
    (IPv4MA)

     Format : 0:0:0:0:0:FFFF:w.x.y.z  (::FFFF:w.x.y.z)  Trong đó w,x,y,z là các IPv4 Address

    Vd : 0:0:0:0:0:FFFF:192.168.1.2

    IPv4MA là địa chỉ của một IPv4 Only Node đối với một IPv6 Node, IPv4MA chỉ có tác dụng thông báo và không được dùng như Resource hoặc Destination Address

    c. 6to4 Address


    Là địa chỉ sử dụng trong liên lạc giữa các IPv4/IPv6 nodes trong hệ thống hạ tầng IPv4 (IPv4 Routing Infrastructure). 6to4 được tạo bởi Prefix gồm 64 bits như sau :        

    Prefix = 2002/16 + 32 bits IPv4 Address =64 bits

    6to4 Address là địa chỉ của Tunnel (Tulneling Address) định nghĩa bởi RFC 3056

    Để cho các bạn dễ nhớ, tôi sẽ đưa cho các bạn một cái bảng tóm tắt các loại địa chỉ IPV6

Powered by Community Server (Commercial Edition), by Telligent Systems